Làm rõ những thay đổi của cảm hứng yêu nước trong văn học Việt Nam cuối thế kỷ XIX.

Thứ sáu - 19/10/2018 09:48
làm rõ những thay đổi của cảm hứng yêu nước trong văn học Việt Nam cuối thế kỷ XIX

Đề bài: làm rõ những thay đổi của cảm hứng yêu nước trong văn học Việt Nam cuối thế kỷ XIX.

 

Văn học nửa cuối thế kỉ XIX được xem là giai đoạn văn học bản lề, chuyển tiếp giữa hai giai đoạn văn học trung đại và hiện đại Việt Nam. Trong tất cả những đóng góp của văn học giai đoạn này, phải kể đến sự chuyển biến về hệ thống đề tài. Nửa cuối thế kỉ XIX, các tác giả đã dần dịch chuyển từ những đề tài kì vĩ, rộng lớn sang mảng đề tài cụ thể, nhỏ bé, gần gũi. Những hình ảnh đời thường, dung dị ấy đi vào văn học và làm nên nét độc đáo cho Văn học trung đại Việt Nam.

Yêu nước vốn là truyền thống lâu đời của dân tộc. Trải qua hàng chục thế kỷ chống ngoại xâm, từ buổi đầu dựng nước cho đến khi có văn học thành văn, nhân dân ta thể hiện lòng yêu nước mãnh liệt của mình.

 Ðến nửa cuối thế kỷ XIX, khi Pháp sang, truyền thống yêu nước vốn là truyền thống lâu đời của dân tộc lại có dịp bùng lên một cách mạnh mẽ. Văn học chống Pháp ra đời đã kế thừa một cách tốt đẹp truyền thống yêu nước trong lịch sử và  và có những bước phát triển phù hợp với hoàn cảnh mới của lịch sử.

  Văn thơ yêu nước đã vạch trần những luận điệu hèn nhát, bỉ ổi của triều đình, bọn vua quan vô trách nhiệm, bè lũ Việt gian bán nước thành những bản án đanh thép hoặc những trang châm biếm sắc sảo.

 

-         Hịch đánh Tây của Lãnh Cồ

-         Hà thành thất thủ ca.

-         Hà thành chính khí ca.

-         Vè thất thủ kinh đô.

-         Biểu trần tình của Hoàng Diệu

-         Phú kể tội Pháp đánh Bắc kỳ lần I của Phạm Văn Nghị.

-         Hịch kêu gọi nghĩa binh đánh Tây của Nguyễn Ðình Chiểu…     

Mặt khác , nó còn phản ánh tâm lý đau xót của nhân dân trước cảnh nước mất, nhà tan (bài Cảm tác của Phan Văn Trị, Vè thất thủ kinh đô của nhân dân Huế, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Ðình Chiểu…)

 Khuynh hướng này đã đem đến cho văn học một luồng sinh khí mới, một sức sống mới. Các tác giả tiêu biểu của khuynh hướng này là Nguyễn Ðình Chiểu, Phan Văn Trị, Nguyễn Thông, Nguyễn Quang Bích, Nguyễn Xuân Ôn…

Đất nước bị giày xéo và cuộc chiến đấu chống Pháp của nhân dân Nam Bộ. Ai đã một lần đọc bài thơ Chạy giặc của Nguyễn Đình Chiểu, hẳn sẽ không bao giờ quên được những hình ảnh hết sức tán loạn trong buổi đầu Pháp đặt chân đến Việt Nam.

 

“Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy

 

Mất ổ đàn chim dáo dác bay”.

Tiêu biểu cho thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu là những bài văn tế rất hào hùng nhưng cũng không kém phần bi thương, thống thiết. Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc gợi lên hình ảnh những người nông dân chân chất bước vào trận chiến với biết bao điều lạ lẫm, nhưng ở họ có một sự tự nguyện và đức hi sinh rất lớn. Họ không đợi ai đòi, ai bắt mà anh dũng tham gia trận chiến với tư cách là một người nghĩa sĩ nông dân. Hình tượng ấy hoàn toàn mới trong văn học.

 

 

Một điều đáng ghi nhận là các tác giả giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX đã nhận thấy sự không cần thiết của những đề tài sơn thủy hữu tình trong thơ văn cổ. Những đề tài ấy chỉ mang lại ý nghĩa giải trí và mục đích làm cho tâm hồn con người đẹp hơn. Trước cảnh nước nhà đang bị thực dân Pháp đô hộ, văn chương phải phát huy tác dụng của mình là phản ánh hiện thực một cách chân thực, gần gũi và thức tỉnh lòng yêu nước ở mọi người. Mỗi giai đoạn văn học cần có những đề tài đặc trưng nhằm phản ánh hiện thực xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khái quát một cách cô đọng và hàm súc về hình ảnh thơ trung đại:

 

“Thơ xưa thường chuộng thiên nhiên đẹp

Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông”.

Hai câu thơ giúp chúng ta hiểu được phần nào về mảng đề tài sáng tác mà các tác giả trung đại thường khai thác. Phong, hoa, tuyết, nguyệt là những hình ảnh thơ rất đẹp, khiến tâm hồn con người như có sự giao cảm với đất trời vạn vật. Nhưng dường như bức tranh ấy chưa gần gũi với người đọc, chưa mang lại cái cảm giác chân thật cho người cảm nhận. Nó dường như rất xa vời, khó nắm bắt. Dòng chảy văn học không dừng lại ở đó mà có sự bắt nhịp cùng hoàn cảnh xã hội để tạo nên nét độc đáo cho văn học nửa cuối thế kỉ XIX với sự xuất hiện của mảng đề tài gần gũi, quen thuộc. Chưa bao giờ văn học xuất hiện những hình ảnh hết sức bình thường, dung dị như: cảnh chạy giặc, cảnh lên lão, cảnh lụt lội, cảnh trường thi, vợ tiễn chồng đi thi, nỗi buồn thi hỏng

 Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ luôn tâm niệm dùng ngòi bút chở đạo và đánh vào bọn giặc ngoại xâm cướp nước. Cảnh chạy giặc trong thơ ông là một cảnh tượng hết sức hoảng loạn và đau lòng. Những đàn chim mất ổ, những đứa trẻ mất nhà là sự cụ thể hóa nỗi đau của hàng triệu đồng bào ta trong cảnh chiến tranh. “Lơ xơ” và “dáo dác” là những từ diễn tả thật chính xác tâm trạng bất an của cả người lẫn vật. Không dừng lại ở chuyện đảo lộn sự bình yên trong cuộc sống của nhân dân, chúng còn thẳng tay tàn phá những giá trị vật chất của ta. “Của tiền tan bọt nước” và “tranh ngói nhuốm màu mây” là hai hình ảnh thơ hết sức chân thực về sự phá hoại của Pháp trên mảnh đất của cha ông.

 

 

 

Một khi đất nước đã bị đô hộ về chính trị thì văn hóa cũng chịu ảnh hưởng không ít. Bởi dã tâm thôn tính dân tộc sẽ bắt đầu từ việc làm tha hóa những giá trị tinh thần đã trở thành nếp nghĩ, nếp sống của mỗi người dân. Sự khai sáng văn minh mà Pháp mang đến không gì khác hơn là những cái nhố nhăng rởm đời, những cách sống đua đòi, những sự suy đồi về phong hóa đã tiêm nhiễm vào từng gia đình, từng con người. Tất cả những hiện tượng đó được Tú Xương ghi nhận với một tâm trạng hết sức xót xa và ông xứng đáng được mệnh danh là “Người thư kí trung thành của thời đại”.

 

Trước đây, văn học thường đề cập đến con người và cảnh vật một cách chung chung, không cụ thể. Hoặc nếu có thì cũng tìm cảm hứng từ những cảnh vật của đất nước Trung Hoa xa xôi như Xích Bích, Tầm Dương… Điều này ít nhiều làm giảm đi tính chân thực của văn chương. Các tác giả của nền văn học bản lề giữa thời trung và cận đại đã tạo nên nét riêng trong thơ mình bằng những đề tài cụ thể với những làng quê, phố thị, con người, sự kiện có tên tuổi hẳn hoi. Tác dụng của những dấu ấn độc đáo này là làm cho sự cảm thụ của độc giả không còn vướng víu với những địa danh xa lạ, với những con người không quen thuộc từ những điển tích, điển cố vốn chỉ thích hợp với tầng lớp người trí thức.

 

Nguyễn Đình Chiểu là một nhà nho yêu nước, thơ văn của ông tập trung phản ánh công cuộc chống Pháp và sự căm giận trước những thiệt hại mà bọn xâm lược đã gây ra cho nhân dân ta. Hai địa danh trong bài thơ Chạy giặc chỉ là một trong số vô vàn những mảnh đất của cha ông phải oằn mình gánh chịu sự tàn phá của ngoại xâm:

 

Bến Nghé của tiền tan bọt nước

Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây”.

Bến Nghé, Đồng Nai là những địa danh nghe sao gần gũi, sâu nặng nghĩa tình quê cha đất mẹ. Nhà thơ mù đánh giặc bằng ngòi bút còn gọi tên quê hương

Ở ngay chính tiêu đề tác phẩm “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”. Phải là một người luôn thao thức, dằn vặt trước sự tồn vong của đất nước thì Đồ Chiểu mới cố gắng in dấu tên đất, tên làng trong thơ mình sâu đậm như thế. Điều đó cho thấy rằng, tinh thần quốc gia dân tộc luôn nằm trong tư tưởng của nhà thơ cũng như mỗi người dân Việt. Và khi cần thì tinh thần ấy lại trỗi lên mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

 

 

 

Tạm khép lại cái nhìn bao quát về sự chuyển biến rõ rệt của hệ thống đề tài, từ những đề tài thiên về tính chất siêu hình, triết lí, có tầm khái quát cao ở những thế kỉ trước đã thay đổi thành những đề tài mang tính thời sự, thế tục, gần gũi với mọi người. Những đề tài này rất sinh động và nóng hổi được chắt lọc từ cuộc sống hàng ngày, từ những người thực việc thực ở chính quê hương của các tác giả chứ không phải từ bất cứ một điển tích điển cố nào. Với sự đóng góp của mảng đề tài thiên về cái cụ thể, nhỏ bé, gần gũi; các tác giả đã đưa cái dung dị, đời thường đi vào thơ thật tự nhiên và hình tượng con người được phản ánh cũng mang những nét “điển hình” cho bộ mặt xã hội đang trên đà tuột dốc.

 

 

 

 

Tác giả bài viết: Ngô Thị Hồng

Nguồn tin: cá nhân

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Văn bản mới

522/PGDĐT

CV v/v Thi tìm hiểu 1010 năm Thăng Long - Hà Nội

Thời gian đăng: 09/09/2020

lượt xem: 7 | lượt tải:3

Số 60/KH-THCSHD

Kế hoạch tuyển sinh vào lớp 6 năm học 2020-2021

Thời gian đăng: 31/07/2020

lượt xem: 24 | lượt tải:10

CV số 3280/BGDĐT-GDTrH

HD điều chỉnh nội dung dạy học cấp THCS, THPT của Bộ GD&ĐT

Thời gian đăng: 29/08/2020

lượt xem: 18 | lượt tải:5

TT 26/2020/TT-BGD ĐT

TT 26 sửa đổi TT 58 về Quy chế đánh giá, xếp loại HS THCS,THPT

Thời gian đăng: 09/09/2020

lượt xem: 12 | lượt tải:7

Số 2686/HDLN:GDĐT-YT

HD liên ngành về phòng chống dịch Covid-19 đầu năm học 2020-2021

Thời gian đăng: 25/08/2020

lượt xem: 14 | lượt tải:6

Số 07/QĐ-HĐXTVC

Quyết định v/v phê duyệt DS LĐHĐ đủ điều kiện xét tuyển viên chức huyện Thanh Oai năm 2020

Thời gian đăng: 21/07/2020

lượt xem: 28 | lượt tải:0

06/TB-HĐXTVC

Hướng dẫn thí sinh dự sát hạch vòng 2 kì xét tuyển VC GV huyện Thanh Oai năm 2020

Thời gian đăng: 21/07/2020

lượt xem: 28 | lượt tải:10

CV 190/PGDĐT-THCS

CV số 190/PGDĐT hướng dẫn xét tốt nghiệp THCS

Thời gian đăng: 26/05/2020

lượt xem: 53 | lượt tải:20

CV số 1524/SGDĐT-QLT

CV hướng dẫn tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2020-2021 của TP Hà Nội

Thời gian đăng: 26/05/2020

lượt xem: 46 | lượt tải:20

CV 1504/SGDĐT-QLT

Hướng dẫn xét công nhận tốt nghiệp THCS của SGD&ĐT Hà Nội

Thời gian đăng: 26/05/2020

lượt xem: 58 | lượt tải:19
Quảng cáo 2
Thăm dò ý kiến

Cảm ơn bạn đã ghé thăm Website. Bạn biết trang của chúng tôi qua:

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây